ĐÔI LỜI BỘC BẠCH

Sau ngày đất nước được phân đôi, tôi đưa vợ con từ căn cứ địa kháng chiến trở về quê cũ.

Suốt chín năm dài bị giặc chiếm đóng, làng tôi nay càng xơ xác tiêu điều. Cửa nhà rách nát. Đồng ruộng hoang rậm cỏ năn. Cả vạt rừng làng cặp ven sông Ba Lai nhiều chông mìn còn sót lại, khiến những con trâu đói cỏ sút chuồng càn vô đây tìm lá cóc kèn dẫm phải lựu đạn, nằm chết rất thương tâm.

Sau khi trình diện và xin giấy tờ hợp pháp với chánh quyền hiện hữu, chúng tôi, những người mới trở về phải bắt tay vào việc tìm lấy miếng ăn, vì đói nghèo đang chực chờ trước mắt. Tôi vừa phải đi gặt lúa mướn vừa vỡ đất trồng bắp và khoai lang cho gia đình sống qua ngày.

Vài tháng sau, tôi lại tiếp tục ra đi. Trước khi lên đường, tôi đốn tre dựng lên một mái trường cho vợ tôi dạy trẻ con trong xóm, vừa để chống dốt vừa kiếm gạo nuôi con.

Sách, vần mang từ chiến khu về chúng tôi không dám dùng vì có nhiều điều nguy hiểm. Sách của chánh quyền hiện hữu, tôi không nỡ xài vì nó chứa đựng nội dung đi ngược với lý tưởng của mình. Thế là tôi phải chọn lọc trong sách giáo khoa thư ngày xưa. Thêm vào, tôi có viết ra một số bài học thuộc lòng và tập đọc để cho vợ tôi xen vô dạy cho đám trẻ. Nội dung dựa vào di tích, địa danh, con người và những sinh hoạt thực tế của quê hương. Khởi đầu là bài Cây da đôi, Cúng thần, Cây sao quỳ… Rồi trên cơ sở đó, tôi tập tễnh viết thêm với lòng rung cảm thực sự của mình. Cuối cùng, thơ của tôi được chọn đăng trên vài tờ báo công khai của Sài Gòn thời ấy (Bình Dân, Nhân Loại, Liên Á, Tiếng Chuông…).

Tôi chưa từng học làm thơ, nhưng với nguồn vốn ở những bài hát ru của mẹ tôi từ thuở bé, với vần điệu quen thuộc mà tôi đã học thuộc lòng trong Quốc văn giáo khoa thư, nên khi đã rung cảm thì tự phát ra theo tiếng lòng của mình bằng lời lẽ chơn chất đơn thô.

Hơn 40 năm qua, từ 1955, thơ tôi làm ra thì nhiều nhưng với cuộc đời nổi trôi luân lạc, tôi không làm sao lưu lại được, trừ một số ít bài làm gần đây.

Sau đây là những bài còn sót lại trên vài tờ báo cũ. Tôi cố vận dụng trí nhớ của tuổi già để ghi lại, gọi là những gì để kỷ niệm của một người yêu thơ.

TP. Hồ Chí Minh, trưa 07.04.1998

Lê Hải Phong

Lão y Lê Văn Chánh