Khái quát về bịnh trĩ và phương cách điều trị

TÁC GIẢ: LƯƠNG Y LÊ VĂN CHÁNH

Tp. Hồ Chí Minh, Chiều 17 tháng 2 năm 2000

Từ thập niên 60, một công bố của Hiệp hội Hậu môn Trực tràng học Mỹ đã gây không ít lo lắng cho nhiều người: “Ít nhất có 33% trong tổng dân số mắc các bịnh ở hậu môn trực tràng” (at least 33$ of general polulation have anorectal disease of some kind). 

Ở nước ta đã có câu “Thập nhơn cửu trĩ”. Tuy đó chỉ là câu ước lệ nhưng nó cũng nói lên số người mắc phải các bịnh này quá nhiều. Tính tỷ lệ người bịnh trĩ cao như thế một phần là do giới Đông y vẫn còn xem các bịnh ở hậu môn đều là bịnh trĩ, 24 thứ trĩ, đại loại như: Trĩ lậu (Dò), Thoát giang trĩ (Sa trực tràng), Ngưu nại trĩ (Gai nhú), Kê quan trĩ (Mồng gà), Phong sào trĩ (một dạng ung bướu), Huyền châu trĩ (Pôlip có cuốn nhỉ như hạt châu treo), v.v…

Nhận thức này còn mang tính nhập nhằn, gán ghép, vì dựa vào hình dáng mà đặt tên, dễ lẫn lộn trong chẩn đoán và khó khăn cho điều trị, nên ta cần xem xét lại để đi lên đến chỗ hòa nhập và thống nhất với nhận thức mới, đúng theo đường lối kết hợp đông tây y và hiện đại hóa y học cổ truyền dân tộc.

Riêng về bịnh trĩ, tôi thấy, nó chiếm một tỷ số cao nhất trong nhóm bịnh ở hậu môn, khoảng 4 phần 5.

NGUYÊN NHÂN gây ra với tỷ lệ đáng lo lắng đó, đông y đã lý giải là do bốn khí Phong Thấp Táo Nhiệt. Y học ngày nay đã lần lượt chứng giải: Di truyền, nghề nghiệp, tuổi già là nguyên nhân chính và bất cứ nhân tố nào có tác động chèn ép đường máu lưu thông từ hậu môn trở ngược lên đều có thể gây bịnh trĩ, như các bịnh về tiêu hóa (kiết lỵ, tiêu chảy, táo bón, gan mật, u bướu, xây xát, nhiễm trùng, cũng như phụ nữ mang thai cộng thêm với sinh hoạt thường diễn của đời sống như thói quen ngồi tĩnh tại, lạm dụng sức khỏe, nhấc vật nặng… Nhưng đây là những tác nhân.

Bằng các nghiên cứu trên thực thể, nguyên nhân chủ yếu của bịnh trĩ được xác lập là do sự đặt để của thiên nhiên trên thân thể con người. Đó là: – Sự cấu trúc mô mạch ở hậu môn vốn mềm yếu lại phải đảm nhận vai trò mở ra đóng vào thường xuyên – Thế đứng và dáng ngồi thẳng của con người (the erect posture of man) là sinh vật hai chân có hậu môn chúi xuống mặt đất, ngược lại, sinh vật bốn chân có hậu môn nằm ngang hiếm có bịnh trĩ.

ĐỊNH NGHĨA VÀ ĐỊNH HÌNH: Bịnh trĩ là giai đoạn phát lộ của quá trình suy thoái chức năng hồi huyết của hai đám rối tĩnh mạch trĩ, làm cho máu tồn đọng tại những túi mạch trĩ trên (venous sacs) và những viên nhỏ tĩnh mạch trĩ dưới (small venules), gây ngưng kết và nở dãn phương trình, cuối cùng nhô lên những cục lồi có chảy máu ở hậu môn, đó là hai đặc điểm của bịnh trĩ, kèm theo nhiều chứng trạng khó chịu khác.

Bịnh trĩ có hai loại: trĩ nội và trĩ ngoại. Còn có trĩ hỗn hợp nội ngoại và trĩ phức hợp (có bướu gai phì đại, có sa trực tràng…).

Trĩ ngoại xuất phát từ đám rối tĩnh mạch trĩ dưới, bao bọc bởi lớp da quanh hậu môn và nó có ba thể dạng: – Xung huyết sưng dãn tĩnh mạch (Varicose) – Thuyên thắt (Thrombose) và – Da sần (Skin tags).

Trĩ nội có cái gốc từ đám rối tĩnh mạch trĩ trên, bao bọc bởi lớp niêm mạc trong hậu môn, vị trí của nó cách bìa hậu môn 1 inch (2,45cm). Trĩ nội có những dạng khác nhau: – Trĩ nội đơn thuần, có múi tách biệt hình tròn hoặc hình trứng, màu đỏ hoặc tím, đường kính từ 0.5cm đến 2cm hoặc lớn hơn. – Trĩ vòng là khối trĩ hình phình ra giáp vòng không tách biệt từng múi. Trĩ nội có dạng sa dãn mềm nhão hoặc sượng cứng… Thông thường thì thầy thuốc phân chia trĩ nội ra làm bốn giai đoạn theo mức độ bịnh lý với chuẩn độ như sau:

  1. Giai đoạn 1 (độ 1):

            Từ bìa hậu môn đi vào trong 1 inch nhô lên từ một đến bốn cục nhỏ hình tròn hoặc hình trứng bao bọc bởi màng nhờn, mềm mịn, màu đỏ mặt ướt. Phải vạch thật kỹ hoặc dùng ống nội soi mới thấy rõ. Thường thì bịnh nhân chưa có cảm giác đau rát và chỉ tự mình phát hiện khi đi tiêu thấy máu dính phân, giấy chùi hoặc máu nhểu giọt khi rặn mạnh.

  1. Giai đoạn 2 (độ 2):

            Số cục trĩ, hình dáng, màu sắc như trên nhưng lớn hơn. Khi đi tiêu các cục trĩ bắt đầu lồi ra ngoài hậu môn, đứng dậy nó tự động co vào. Ra máu nhiều hơn, nhỏ giọt nhanh hơn, có khi máu xịt thành tia và có cảm giác đau rát ít.

  1. Giai đoạn 3 (độ 3):   

            Các cục trĩ có thể tích khá to, từ 1cm trở lên. Khi đại tiện lồi hẳn ra ngoài hậu môn, phải dùng tay mà nhét hoặc nằm nghỉ một chặp lâu mới co vào được. Nhiều khi bị sưng thấy khối trĩ lồi luôn ra ngoài hậu môn không nhét vào được. Ra máu nhiều hơn. Có cảm giác trằn nặng, đau nhức càng nhiều, đôi khi đi đứng thấy cáng náng.

  1. Giai đoạn 4 (độ 4):

            Các cục trĩ có thể tích thật to, toàn khối trĩ có đường kính 5cm-6cm. Ngồi xổm hoặc đi đứng, cử động mạnh là lồi ra, có khi lồi ra hậu môn thường trực nhét vào là lồi ra ngay, phải dùng bông gạc tẩm thuốc dầu thuốc mỡ mà đóng mút và băng ép lại mới ém giữ tạm thời được. Ra máu thật nhiều hoặc ra rỉ rả, trong máu trộn lẫn niêm dịch, hôi tay nhầy nhớp phải đóng khố.

Để định vị các búi trĩ, ta còn chia hậu môn ra thành 12 múi giờ theo chiều quay của kim đồng hồ, khởi điểm ngay phía trước.

 

KHÁM BỊNH TRĨ:

“Chẩn đoán sai gây họa tai cho điều trị”. Đây là kinh nghiệm và cũng là châm ngôn đã rút ra sau nhiều năm trăn trở, nó nói lên có chẩn đoán tốt mới điều trị tốt.

Vọng, vặn, vấn, thiết (Tứ chẩn) là khoa học chẩn đoán của Đông y có giá trị nghìn đời, ta chỉ cần vận dụng nó nhuần nhuyễn và sinh động để khám bịnh trĩ thì sẽ đạt được yêu cầu. Quan trọng là phần Vọng chẩn, Vấn chẩn, Thiết chẩn. Chính nhóm chuyên gia thượng thặng về hậu môn trực tràng của giáo sư Hary Bacon cũng đã viết: “Khám bịnh ở hậu môn chủ yếu là dùng tay và mắt”. Các phương tiện dụng cụ như kính soi hậu môn, soi trực tràng, sinh thiết, chụp X quang, xét nghiệp… sẽ cần dùng đến khi thấy có dấu hiệu liên quan những bịnh khác ở vùng này để phối hợp điều trị cùng với bịnh trĩ, như Viêm đại tràng, Ung bướu, Lao, Giang mai…

Bịnh trĩ là một thực thể rõ ràng (lồi, chảy máu, có khi đau nhức và khó chịu) và người bịnh trước khi đến với thầy thuốc đã có ý thức về bịnh chứng của bản thân mình. Hơn nữa đối với trị ngoại thì nó tự thể hiện, nhìn vào là thấy ngay. Còn vị trí của trĩ nội thì chỉ cách bìa hậu môn 1 inch, nếu ta biết dùng tay banh vạch khéo léo thì nó sẽ bộc lộ. Làm như thế vừa nhanh gọn và chính xác, bịnh nhân ít đau, ít sợ, dễ cộng tác và các múi trĩ không bị che lấp bởi trung gian của dụng cụ.

Banh vạch hậu môn là một thủ thuật mà cũng là một nghệ thuật, thao tác đơn giản nhưng rất tinh tế nên cần phải luyện tập thuần thục. Chọn tư thế (Position) cho người bịnh cũng là yếu tố quan trọng. Với năm tư thế thông dụng hiện nay: Nằm nghiêng bên trái, nằm ngửa, quỳ gối, nằm sấp, ngồi xổm, tôi chọn thế nằm nghiêng bên trái (Left lateral – Sim position) là tiện lợi nhất, nhưng sau đó nhận thấy nó còn một số nhược điểm nên đã cải biến lại thành tư thế nằm nghiêng bên phải, không vặn mình, không rướn người, không áp lực xuống bàn, làm cho người bịnh thoải mái, an tâm, sẵn sàng cộng tác và người thầy thuốc có nhiều thuận lợi để khám trĩ và điều trị.

Còn một số vấn đề tế nhị khác cũng cần được quan tâm, như: chuẩn bị tâm lý người bịnh, đặt những câu hỏi thích ứng, việc che đậy (Drapping), bàn khám, ánh sáng…

CHE ĐẬY:

Từ xưa đến nay, nhiều danh y từ đông sang tây đã có những nhận thức về bịnh trĩ khá rõ và đã có những phương thức điều trị hiệu quả cao. Thức thực hiện tuy có khác nhưng phương hướng điều trị cùng tương hợp nhau, là lấy nội khoa làm gốc để giải quyết căn nguyên sinh ra bịnh đồng thời phải xử lý kịp thời và thích đáng tại chỗ đau. Đối với bịnh trĩ, điều trị tại chỗ đau là rất quan trọng, có khi càng cấp thiết hơn, như ta cần xử lý một vết thương, dù là vết thương nhẹ nhưng nó cứ chảy máu, có nguy cơ nhiễm trùng và lôi kéo theo nhiều di chứng khác.

  1. Dùng phương thang (Đông y) và dùng thuốc đặc hiệu (Tây y) đều nhằm mục đích lương huyết, thanh nhiệt, nhuận táo, khu phong, trừ thấp chống lại nguyên nhân gây bịnh, đồng thời bồi bổ nguyên khí, nâng cao thể trạng và cơ năng để chống lại sự suy thoái ở khúc cuối cùng của bộ máy tiêu hóa.

Trải qua nhiều năm, tùy theo cơ địa và bịnh trạng của bịnh nhân, tôi có dùng một số thuốc sau đây để phòng ngừa, hỗ trợ điều trị chống tái phát: – Phần Đông y có bổ trung ích khí, Trường phong trĩ lậu, cao ích mẫu, bài Tiêu viêm Võ Lệ Hồng, Hương sa lục quân… và một số thuốc để giải quyết bịnh đường ruột, tác nhân trực tiếp của bịnh trĩ (Lá mơ, rau sam, Bererin…). – Phần Tây y có Extrai de Marron d’Inde, Esculéol, Essaven, Esberiven, Varemoid, Varecort, Circanetten, đặc biệt có Opoveinogène được chiết xuất từ lá nho đỏ rất hay. Gần đây có một số thuốc vắng mặt trên thị trường, tôi cho bịnh nhân dùng Ginkor fort của nhà Beaufour Ipsen International, bước đầu thấy có thuyên giảm chứng trĩ nội đang sưng phù lộ xuất ra ngoài: Thể tích khối trĩ theo nhỏ nhét vào được, ngưng tiết dịch và giảm đau nhức.

  1. Sử dụng các phương pháp: Bôi thuốc, xông thuốc, nhét thuốc, ngâm, đắp, trích, tiêm chích và phẫu thuật là để giải quyết tại chỗ đau, trả lại cho hậu môn các trạng thái và chức năng bình thường là “đóng lại và mở ra cho tốt”.

Mỗi phương pháp đều có hiệu quả nhất định, nếu ta biết vận dụng tốt thì sẽ phát huy được hiệu quả và tránh được những sự biến xảy ra. Ngay cả phẫu thuật là phương pháp tối hậu ưu thế nhất, nhưng không hẳn đem lại hiệu quả tốt nhất nếu tay nghề của phẫu thuật viên còn non yếu, thiếu điêu luyện, thiếu cẩn trọng và làm không đúng cách. Nên qua thực tế, tôi đã gặp rất nhiều trường hợp bịnh trĩ phải mang di tật ở hậu môn suốt đời như: Teo hẹp, sẹo cứng mất đàn hồi, không còn cơ vòng ngoài làm cho hậu môn trống hoác, niêm mạc đỗ xuống lồi ở ngoài thường trực, niêm dịch chảy ra liên tục phải đóng khố.

Trừ phẫu thuật ra, tôi đã trải qua hầu hết các phương pháp kể trên: – Ngâm, Nhét, Đắp, Trích chỉ dùng để điều trị tạm thời (palliative treatment) có nghĩa là triệu chứng (chống đau, chống viêm, chống ra máu, làm se niêm mạc) – Bôi thuốc (khô trĩ tán và Dương y đại hán), Xông thuốc (Bài Tam độc gồm Thạch tín, Thủy ngân, Mã tiền, thuốc rê, sáp ong…) có hiệu quả trước mắt là làm cho rụng các mụn trĩ nhưng rất độc hại, cần nghiên cứu cải tiến – Đốt, thực hiện phức tạp nhưng hiệu quả giới hạn – Thắt, các mụn trĩ đứt mất nhưng kéo dài cái đau – Riêng về tiêm chích, vào năm 1960 trong nhà tù Côn Đảo, vì xót xa ray rứt cho sức khỏe của anh em đồng cảnh bị bịnh trĩ vắt kiệt lại phải quần quật làm khổ sai, nhóm anh em làm công tác y tế trong tù (tù y) bắt đầu thực hiện phương pháp tiêm chích, từ những dung dịch bào chế sẵn như Sclérana (Quinine uréthal), Anusclérol (Phénol + huile d’olive) đến những dung dịch tự tìm tòi như Salicylate de phéniquée (Phénol + Glycérine + Eau distillée), anh em tù y tự pha chế và điều trị cho rất đông anh em tù bịnh trĩ kể cả binh lính và công chức trên đảo). Sau này ra tù trở về đất liền, nhờ đọc sách, tôi thấy được là tù y Côn Đảo chúng tôi đã làm đúng như lời khuyến cáo của nhóm giáo sư Hary Bacon: Trong điều trị trĩ nội bằng tiêm chích nên dùng dung dịch Phénol để thay thế  cho dung dịch Quinine vì nó không gây chóng mặt và ít xảy ra những phiền phức khác như Quinine… Nhờ thế mà tôi thêm tin tưởng, kiên trì nghiên cứu, cải tiến và vận dụng nó ngày càng thêm hiệu quả để điều trị cho hàng chục vạn bịnh nhân suốt 35 năm qua, với tâm niệm là làm sao cho bịnh nhân “ít đau, mau lành và không để lại hậu chứng”. Sau ngày giải phóng, tôi đã cống hiến hết thành quả này cho Viện Y Dược học dân tộc Tp. Hồ Chí Minh và đã cùng với Viện đưa ra phương pháp này thành đề tài nghiên cứu khoa học, đến nay đề tài nghiên cứu này xem như đã hoàn chỉnh. Tôi đặt tên cho nó là PG-60, chữ đầu của hai dược chất mà cũng có ý nghĩa là Phòng giam 1960 để tưởng nhớ đến công lao ban đầu của nhóm tù y Côn Đảo thực hiện trong phòng giam vào thập niên 60.

Bịnh trĩ vốn đa loại và đa dạng, các phương pháp kể trên chưa đủ để giải quyết trọn vẹn vấn đề vì nó còn nghiêng về loại trĩ chiếm tỷ số cao nhất là trĩ nội. Ta còn phải giải quyết trĩ ngoại, giải pháp phòng ngừa và điều trị tạm thời.

Điều trị trĩ ngoại – Các phương pháp đang thông dụng vẫn có giá trị lâu dài như: – Trĩ ngoại sưng dãn tĩnh mạch, nên dùng các loại thuốc kể trên, nếu không khỏi mới sử dụng đến bóc tách (excision) – Trĩ ngoại viêm tắc, các thầy thuốc cổ truyền đã biết dùng kim tam lăng mà khươi và lấy kẹp mà gắp những trái tim gà (kê tâm trĩ) nằm dưới lớp da hậu môn, nay ta dùng đúng cách Excision càng tốt hơn – Trĩ ngoại da sần, nên thắt thật chặt và cắt cho gọn. Tất cả tuy đơn giản nhưng đòi hỏi rất nhiều ở kinh nghiệm, kỹ thuật và sự thận trọng của người thực hiện.

PHÒNG NGỪA:

Nên dựa vào các nguyên nhân gây bịnh mà có những giải pháp thích hợp để phổ biến cho mọi người cùng biết tự mình thực hiện trong đời sống thường ngày, như giữ gìn sạch sẽ ở hậu môn (rửa đít như rửa miệng giống như người Hồi giáo), tránh cử động và sinh hoạt thái quá, bớt ngồi tĩnh tại, không lạm dụng sức khỏe, tránh các bịnh đường ruột, cách ăn uống và tập thể dục theo phương pháp dưỡng sinh ở vùng bụng. V.v…

Điều trị tạm thời là giải quyết cơn hành của bịnh trĩ khi xảy ra những chứng sưng lồi, đau nhức, ra máu, rối loạn tiểu tiện, mắc rặn… Nên dùng các phương dược và ngoại phương nhằm chỉ huyết, chỉ thống… theo phương châm thầy thuốc và bịnh nhân cùng làm.

Trong những năm gần đây, tôi thấy có ba “sự kiện” nổi cộm nhằm giải quyết vấn đề bịnh trĩ, mỗi sự kiện là một hoạt động tích cực của một tập thể lớn biểu hiện cho ý hướng tốt đẹp của một trường phái nhằm phục vụ lợi ích sức khỏe con người. Đó là:

  1. Công trình hơn 30 năm nghiên cứu ứng dụng phương pháp điều trị bịnh trĩ của y học cổ truyền từ bài Khô trĩ tán tại Viện Y học cổ truyền Trung ương, nay đã thành tựu là cải biến, khắc phục và loại trừ những độc tính của bài thuốc, tránh được những sự biến thường xảy ra hàng mấy trăm năm. Biểu hiện ý chí kiên cường của trường phái quyết tâm gìn giữ và phát huy cái vốn quý của tiền nhân.
  2. Đề tài hơn 20 năm nghiên cứu kết hợp đông tây y để điều trị bịnh trĩ bằng PG-60 tại Viện Y dược học dân tộc Tp. Hồ Chí Minh, nay cũng đã thành tựu – Biểu hiện ý hướng dung hòa và nhẫn nại của những người biết rút lấy những cái hay của xưa và nay kết hợp lại để bồi đắp thêm cho y học mới.
  3. Sự nhiệt tâm và công sức của anh chị em giáo sư, bác sĩ đang làm công tác y tế ở Hà Nội do Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Nhâm chủ đạo, đã tích cực hoạt động để hình thành Trung tâm Hậu Môn Học tại Viện Y học dân tộc Trung ương, thành lập được Hội Hậu Môn Trực Tràng Học Hà Nội, làm nền móng cho chuyên khoa Hậu Môn Trực Tràng cả nước. Giáo sư Nhâm, người chuyên sâu về các bịnh hậu môn trực tràng, đã đạt được nhiều thành quả trong điều trị bịnh trĩ bằng phương pháp hiện (mỗ theo cổ điển, dao điện và tia laser…). Nhóm này đại biểu cho trường phái dùng học thuật và kỹ thuật hiện đại giải quyết vấn đề trĩ.

Mỗi một phương pháp điều trị bịnh trĩ thực tế là một công trình nghiên cứu và vận dụng dài công của một cá nhân hay một tập thể, xây dựng nên bằng bao nhiêu tim óc con người của nhiều thế hệ, với một bài viết không thể nào diễn đạt được điều mong ước, nên tôi chỉ tự nguyện xin được làm “người giới thiệu chương trình”. Và chỉ có những người thực hiện nó, những vai diễn chính, mới có đủ tài nghệ để giải đáp. Những người đó chính là Viện Y học dân tộc Trung ương, Viện Y dược học dân tộc Tp. Hồ Chí Minh và giáo sư Nguyễn Mạnh Nhâm, chủ tịch Hội Hậu Môn Trực Tràng Học Hà Nội.