Một bài học về kết hợp Đông Tây Y trong quá trình định hình một phương pháp điều trị bệnh trĩ

– Lương y Lê Văn Chánh –

Một Giáo sư từng giữ chức vụ Viện Trưởng Viện Đông Y nhiều năm phát biểu: “Chủ trương kết hợp đông tây y rất đúng, nhưng việc làm thì rất khó. Thôi thì ta cứ nghiên cứu vận dụng và phát huy hết cái hay của mình đi.

Một bác sĩ thuộc hàng giải phẫu nổi tiếng đã thẳng thắng nói trước các đồng nghiệp: “Không thể nào kết hợp giữa hai cái khác biệt nhau một trời một vực, một đằng theo học thuyết âm dương, ngũ hành; một đằng là khoa học hiện đại, đối chọi nhau…”

Chỉ với hai phát biểu trên cũng đủ để chúng ta cảm nhận những khó khăn và thiếu đồng tình đối với đường lối kết hợp. Chưa kể đến thách thức nặng nề khác. Nhưng chúng tôi vẫn theo đuổi vì:

  1. Thấy được cả hai nền y học đều có mục đích chung là phục vụ sức khỏe con người. Đây là điểm đồng nhất quan trọng, quyết định vấn đề.
  2. Vững tin vào sự đúng đắn của đường lối y học là “Thừa kế – Phát huy – Kết hợp, để xây dựng một nền y học Việt Nam mang tính Dân tộc – Khoa học – Đại chủng” mà khâu kết hợp là yếu tố chính để phát triển.
  3. Nghiệm thấy, nếu muốn thực hiện đường lối chủ trương trên thì phải quyết tâm cần cù làm việt, để tìm ra những ưu điểm và đồng nhất của nhau, từ nhận thức đến thực hành,  phải biết trân trọng và vận dụng tới nơi tới chốn với tinh thần sáng tạo. Đồng thời phải gạn lọc để loại ra những phiền toái, không hợp lý và trái khoa học.

Những nhận thức trên đã trở thành phương châm làm việc xuyên suốt của tôi.

Phần 1: KHÁI NIỆM

1. Định nghĩa

            1.1 Theo lâm sàng: Từ cổ đại với khoảng cách về không gian, con người chưa có điều kiện giao lưu nhưng y học của hai vùng xa xôi trên trái đất lại trùng hợp nhau trong định nghĩa bịnh trĩ, là bịnh tại hậu môn có cục lòi và có chảy máu. Ngay bịnh danh cũng nói lên chứng trạng và hai đặc điểm của bịnh này (lồi + chảy máu)

  • Trĩ: doi đất nhô ra tại cửa sông (giang môn, văn học hóa hậu môn), diễn tả cục lồi nhưng thiếu đặc điểm chảy máu.
  • Haemorrhoids: chảy máu nhưng thiếu cục lồi, sau này có thêm danh từ Piles (viên, cục) nhưng ít khi dùng vì tên H. đã quen thuộc hàng nghìn năm.

1.2 Theo sinh lý bịnh: mỗi dòng y học đều có cách lý giả bằng những ý tứ và ngôn từ riêng, nhưng tựu trung vẫn có quan điểm tương đồng, như: – là bệnh thuộc về hư trệ khí huyết xuất hiện tại giang môn (đông y) – là bịnh của quá trình suy thoái hệ tĩnh mạch xảy ra tại chùm tĩnh mạch trĩ… (tây y). Hai từ hư trệ và suy thoái có ý nghĩa gần giống nhau. Thế là ta có thể kết hợp lại thành một lý giải chung: bịnh trĩ là phát lộ của quá trình suy thoái chức năng hồi huyết của các chùm tĩnh mạch trĩ tác động đến mô cơ và niêm mạc ở hậu môn. Một lượng máu không lưu chuyển lên hết gây tồn đọng tại các chùm tĩnh mạch gây nở dãn trương phồng thành những cục lồi bao bọc bởi niêm mạc, bề mặt cục lồi càng dãn mỏng tự vỡ, bị cọ xát hay bị một áp lực nào đó thì ra máu. Khi cục lồi xuất hiện ngoài bìa hậu môn bị ép chặt bởi lớp da thì ít bị vỡ và ra máu nhưng đau nhức hơn.

2. Nguyên nhân

Theo Đông y, có 3 nguyên nhân chính là: Thấp, Táo, Nhiệt.

Theo Tây y, có nhiều nguyên nhân: giải phẫu sinh lý (vị trí và cấu trúc hậu môn), tuổi già, sinh hoạt đời sống (nghề nghiệp, chế độ ăn uống,…), di truyền, thế thẳng đứng của con người,… và nhiều tác nhân bịnh đường ruột, bịnh gan, u bướu, thai sản,…

Lý giải của Đông y nặng phần khái quát, còn Tây y thì cụ thể hơn, nhưng không đối chọi mà lại bổ sung cho nhau. Ta chỉ cần nghiền ngẫm những điều khó hiểu và những điểm tương đồng để có chung nhận thức.

3. Phân loại

            Có nhiều người bảo: Đã vào thời đại này mà còn nhắc đến 24 thứ trĩ, như thế có phải là quá lạc hậu chăng? Tôi xin thưa: Đấy là một thành tựu trong lịch sử y học của nhóm trĩ học Ngô Khiêm đời nhà Thanh, nó là sự gợi ý mở đầu cho Hậu môn – trực tràng học hàng trăm năm sau, vì các cụ có công quan sát 24 thứ bịnh tại hậu môn rồi đúc kết lại và dựa vào hình dạng mà đặt tên cho từng bịnh. Tuy cách diễn tả còn nhập nhằng và và chưa chính xác vì vào thời đó bất cứ bịnh gì xảy ra tại giang môn đều gọi là bịnh trĩ: San hô trĩ, Phong trào trĩ,… thuộc nhóm ung bướu; Kê quan trĩ (bịnh mồng gà); Huyền châu trĩ (polyp hậu môn); Thoát giang trĩ (sa trực tràng); Kê tâm trĩ (thuyên tắc trĩ ngoại)… Nhắc đến không phải để làm theo tất cả mà là để ôn lại bài học của tiền nhân, nhứt là bài học kiên nhẫn và quên mình cho lý tưởng, và ta phải biết chắt lọc để vận dụng. Nhưng không phải chỉ có một nhóm Ngô Khiêm, Đông phương còn có Sào Nguyên Phương đời Tùy, Đậu Hán Khanh đời Tống,… cả đời mò mẫm trên con đường trĩ học. Điều quan tâm hơn hết là cả nghìn năm trước Vương Đào đời Đường và danh y Lê Hữu Trác (thế kỷ 18) ở Việt Nam đã cùng một khẳng định là chỉ có hai loại trĩ: “trĩ nội và trĩ ngoại”. Đây là sự trùng hợp giữa Đông Tây – Kim cổ thú vị!

Phần 2: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BỊNH TRĨ

  1. “Lấy nội khoa làm gốc để giải quyết căn nguyên sinh bịnh, đồng thời phải xử lý tại chỗ đau bằng những phương pháp có hiệu quả”

            Đây là phương hướng rất lâu đời của Đông y nên những bài thuốc nội khoa dùng cho bịnh trĩ đều nhằm mục đích lương huyết, nhuận táo, khu phong như bổ trung ích khí, tiêu viêm,… Nếu đem đối chiếu với Tây y thì đúng là một sự gặp nhau không hẹn trước, vì những biệt dược từ Extrait de Marron d’Inde… đến Ginkor Fort, Daflon đều là hướng tĩnh mạch. Tất cả đều được hai bên điều chế bằng nguồn dược liệu bản địa và đều được sử dụng cho liệu trình dài từ phòng ngừa, điều trị tạm thời và hỗ trợ điều trị tại chỗ đau.

  1. Điều trị tại chỗ đau

            Là khâu chủ yếu trong toàn bộ vấn đề giải quyết bịnh trĩ. Phải làm sao cho khỏi bịnh và không để những phiền toái (tai biến, hậu chứng) xảy ra. Nói rõ là phải trả lại cho cái “cửa sau” đang bị hỏng hóc các chức năng bình thường của nó là đóng lại và mở ra thật tốt.

Qua nhiều thế hệ, các thầy thuốc nước ta đã truyền nối nhau vận dụng nhiều phương pháp điều trị bịnh trĩ như: bôi thuốc, xông thuốc, thắt, đốt, tiêm thuốc (thuộc thủ thuật đơn giản) và giải phẫu. Giải phẫu đến muộn (sau 1899) nhưng hiện nay đóng vai trò tối hậu, vì đội ngũ thầy thuốc phẫu thuật đều được đào tạo kỹ càng, được đầu tư phương tiện kỹ thuật mới nhứt và tốt nhứt giải quyết các bịnh khó mà các giải pháp khác phải bó tay. Nhưng y học của đại chúng luôn cần đến thủ thuật đơn giản có hiệu quả cao.

Phần 3: BÀI HỌC CỤ THỂ

Xuất phát từ những tù nhân làm khổ sai trong y tế (tù y) biết vận dụng một phương pháp đơn giản của y học cổ truyền tây y và biết kết hợp để phát huy thành một phương pháp có hiệu quả cao.

Trong cảnh đời khắc nghiệt của nhà tù Côn Đảo, hàng nghìn tù nhân đã trở thành những thân tàn ma dại… bịnh trĩ cũng góp phần vắt kiệt sức khỏe của anh em. Hằng ngày, y tế trại phải tiếp nhận nhiều ca cấp cứu từ các toán lao động khổ sai đưa về, trong đó có người bịnh trĩ đang bị sưng nghẹt phải khiêng, nhưng họ chỉ được xử lý tạm thời để hôm sau trở lại làm việc quần quật… Đây là nỗi ray rứt của anh em tù y mà cũng là sự đắn đo của nhà cầm quyền trong bài toán về năng suất lao động, nên sau những thỉnh nguyện của tù y được đưa lên được chúa đảo (tỉnh trưởng) chấp nhận, cho phép các tù y được dùng các phương pháp của mình để điều trị cho tù nhân dưới sự theo dõi và hỗ trợ của trưởng ty y tế.

Trước tiên chúng tôi bôi khô trĩ tán và thắt, đốt. Nhưng rồi lại bế tắc vì kém hiệu quả, phiền toái, thiếu trang cụ thích hợp và thuốc có độc chất mạnh. Còn giải phẫu trĩ thì tù y chúng tôi không đủ điều kiện cho phép. Để phá vỡ bế tắc, chúng tôi chuyển sang phương pháp tiêm. Thể nghiệm qua các dung dịch tiêm: cồn 60o, Quinine Uréthal, Salicylate de Sodium, Serum salé hypertonique, Glycerine phéniquée.

Chúng tôi chọn lấy dung dịch sau cùng vì nó có nhiều ưu điểm và đáp ứng với đòi hỏi của nhà tù là phải mau khỏi bịnh để lao động khổ sai. Chúng tôi tự điều chế thuốc bằng cách dựa vào công thức tìm được và nhờ một bạn tù từng làm việc ở labo chỉ dẫn cách pha chế, còn dược chất thì xin ty y tế. Lô thuốc đầu tiên được điều trị cho năm bịnh nhân trĩ rất nặng. Hiệu quả thấy rõ là không còn múi trĩ, hậu môn trở lại bình thường không có vết sẹo và teo hẹp… Sau đó được điều trị mở rộng cho tù nhân trên đảo. Một số công chức và binh sĩ cũng xin được điều trị. Riêng chúa đảo thì rất hài lòng, cho phép tù nhân được nghỉ ốm trong thời gian chữa bịnh và bắt phải “truyền nghề” cho ông ta!

Đây là thành tựu bước đầu trong một hoàn cảnh đặc biệt nên còn nhiều thiếu sót: công thức chưa ổn định, gây hoại tử sâu và ra máu, chẩn đoán và thao tác chưa đúng cách nên thiếu chính xác và bịnh nhân còn đau nhiều, kiến thức về chuyên môn chưa được trau dồi… Anh em tù y đều thấy được những điểm yếu đó nên cùng hứa với nhau sẽ khắc phục nó sau khi trở về cuộc sống đời thường để phục vụ nhân dân… Nhưng tuổi già, bịnh tật và nghịch cảnh là những ngăn trở… một số đã hy sinh trong cuộc chiến.

Là một tù y, tôi luôn nhớ lời hứa đó nên sau khi rời khỏi hòn đảo địa ngục, tôi bắt tay thực hiện bằng quyết tâm của cả quãng đời còn lại, hơn bốn mươi năm.

  • 10 năm đầu, tự lực phấn đấu theo con đường thực tiễn nhằm khắc phục nhược điểm, nâng cao tay nghề và trau dồi kiến thức chuyên sâu. Dựa cơ sở vào một phòng khám tư nhân và đến tận gia đình bịnh nhân, tôi xem mỗi ca bịnh là một bài học sinh động để điều chỉnh công thức thuốc, cải tiến cách thăm khám và thao tác thủ thuật nên hiệu quả và an toàn điều trị được nâng lên. Tôi cũng được nhận vào làm việc tại một dưỡng đường lớn ở Sài Gòn, tiếp xúc với một cơ sở y tế đương đại để mở rộng kiến thức, và tại đây tôi được giao điều trị cho một số người nước ngoài theo yêu cầu của bịnh nhân, có cả những yếu nhân. Kết quả đều tốt.
  • Hơn 30 năm tiếp theo kể từ 1976, Viện Y dược học Dân tộc mời tôi về để kế thừa phương pháp điều trị bịnh trĩ. Tôi sẵn sàng cống hiến và tích cực hợp tác với Viện trong công tác nghiên cứu, xem đây là một cơ hội tốt để trao thành quả của mình cho một cơ quan y tế có đủ điều kiện chứng minh và nhân rộng ra cho lợi ích nhân dân. Bác sĩ Võ Lệ Hồng được viện trao trách nhiệm thừa kế và thực hiện nghiên cứu đề tại, là người có nhiều kinh nghiệm từ Viện Đông y Hà Nội, nay giúp tôi xây dựng đề tài theo đường hướng kết hợp Đông Tây y.

Qua 1977, mọi việc hoàn thành, Hội đồng Khoa học của Viện xét thông qua và được trình bày trong Hội nghị Khoa học về Y học đầu tiên ở phía Nam với tên đề tài là “Phương pháp tiêm Pg-60 điều trị bịnh trĩ” tại Viện Y Dược Học Dân tộc TP. HCM do Lương y Lê Văn Chánh truyền thụ. Báo cáo được hội nghị đánh giá cao, được đại biểu của các tỉnh và các bịnh viện yêu cầu Viện nên sớm truyền đạt. Thế là Viện phải mở rộng hoạt động cho tổ chữa trĩ có đủ nội ngoại trú để tiếp nhận bịnh nhân, có lúc lên đến 100 giường bịnh nội trú. Và đây là cơ sở đào tạo cho các bác sĩ từ khắp nơi đến học tập để về triển khai tại đơn vị mình. Hầu hết các bịnh viện y học cổ truyền các tỉnh phía Nam đều có người đến học và đã triển khai ổn định. Đến nay, số lượng bác sĩ chuyên trị đã gần một trăm người kể cả Quân y và bịnh viện đa khoa.

Cuối năm 1981, theo lời mời của đoàn chuyên gia nước ta tại Campuchia, tôi tham gia đoàn thầy thuốc của Viện, sang Phnom Penh một tháng và chữa khỏi bịnh trĩ cho hơn 100 cán bộ chủ chốt của ta và bạn, gây uy tín và ảnh hưởng tốt cho Viện.

Nhưng mọi việc đang trên đà tiến triển, bịnh nhân trĩ ngày càng đông thì nội bộ Viện lại xảy ra mâu thuẫn giữa Ban lãnh đạo với cán bộ công nhân viên. Tổ chữa trĩ cũng bị ảnh hưởng: phần nhân sự thì bị thuyên chuyển, buộc thôi việc, phần chuyên môn thì bị đình chỉ sử dụng phương pháp tiêm Pg-60 với đủ thứ lý do áp đặt. Nhiều cuộc đấu tranh gay gắt đã xảy ra với kết quả là toàn Ban lãnh đạo phải ra đi… Ban lãnh đạo mới đề nghị Bộ Y tế cho phục hồi phương pháp sử dụng Pg-60, nhưng nghiên cứu lần 2. Cuộc tái nghiên cứu được thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ do Ban Giám đốc và một Giáo sư kỳ cựu chủ trì. Các khoa phòng liên quan từ lâm sàng đến cận lâm sàng được huy động phục vụ cho công tác nghiên cứu lần này.

Kết quả: đánh giá đây là “một phương pháp đơn giản có hiệu quả cao” và định danh là “Phương pháp kế hợp Đông Tây y điều trị bịnh trĩ bằng tiêm dung dịch Pg-60” – Một cuộc hồi sinh của những người thiện nguyện đã vượt lên số phận và những thách thức khắc nghiệt.

Kết hợp trong chẩn đoán

1. Bộc lộ trĩ

Vọng – Văn – Vấn – Thiết (Tứ chẩn) là khoa học chẩn đoán của Đông y có giá trị nghìn đời. Nó sử dụng những phương tiện kỳ diệu sẵn có của con người là ngũ quan, cộng với tim óc và dựa vào quy luật vận động của thiên nhiên và bản thể con người… để nắm bắt những thông tin về bịnh tật. Trong chẩn đoán trĩ thì cần phải sử dụng thuần thục vấn chẩn, vọng chẩn và thiết chẩn (xúc chẩn).

Tây y có những phương tiện kỹ thuật hiện đại và rất tinh xảo cũng là để phát huy hết công năng kỳ diệu của ngũ quan. Cả Đông y và Tây y đều có sự đồng nhứt: “Nếu khám trĩ mà không nhìn thấy rõ và không sờ chạm thì chắc chắn là không điều trị tốt”. Và để bộc lộ trĩ, Đông y bắt bịnh nhân ngồi rặn cho lồi ra hoặc bôi thuốc cho sưng lồi. Tây y thì dùng ngón tay thăm dò (Digital examination), soi hậu môn (Anoscopy), banh hậu môn bằng dụng cụ. Nhưng những cách trên vẫn chưa đạt yêu cầu của chẩn đoán, vì dụng cụ thường che khuất mắt nhìn, gây đau nhiều làm bịnh nhân sợ hãi không cộng tác.

Dựa vào giải phẫu sinh lý hậu môn trực tràng, tôi thấy vị trí của trĩ nội chỉ cách bìa hậu môn 1 inch, cơ vòng ngoài và niêm mạc trong hậu môn vốn đàn hồi và mềm mại dễ dàng dùng tay banh vạch, nên tôi đã tìm ra cách bộc lộ trĩ đơn giản hơn bằng cách: sử dụng những ngón tay nhẹ nhàng và khéo léo banh vạch từ từ cho hậu môn hở rộng ra, nhìn thấy rõ tận trong sâu và kéo cả khối trĩ ra ngoài một cách êm ái dễ dàng cho việc điều trị. Bên cạnh đó, người thầy thuốc phải biết dẫn dụ bằng cách trò chuyện với những câu chuyện cần thiết để bịnh nhân suy nghĩ trả lời mà quên sự lo sợ căng thẳng.

2. Tư thế người bịnh

Về đất liền trong thời gian đầu, tôi tiếp tục sử dụng tư thế ngồi xổm (squatting position) được thực hiện ở Côn Đảo mà từ xưa Đông y đã dùng để khám và điều trị trĩ. Nhưng về sau thấy nó có nhiều bất tiện, tôi thử chuyển qua tư thế nằm ngửa (Dorosacral position) nhưng vẫn thấy có nhiều điều không thích hợp. Sau cùng, tôi chọn lấy tư thế nằm nghiêng trái (Sims’ position) vì nó thích hợp với thăm khám trĩ nói chung. Nhưng qua thực tiễn, tôi nghiệm thấy nó vẫn còn những điều chưa hợp lý và chưa phù hợp với cách banh vạch bằng ngón tay như: – Vùng tim bị đè ép phía dưới bất lợi cho  người mắc bịnh tim mạch – Trung tâm ngực úp xuống mặt bàn, tay phải rươn lên khỏi đầu nên phải vặn mình và rướn lên khiến cho toàn thân căng cứng, rất khó banh vạch, đồng thời không thuận tiện cho điều dưỡng hỗ trợ.

Thế là tôi đã cải biến tư thế Sims thành một tư thế chuyên biệt để khám trĩ như sau: Người bịnh nằm nghiên phải, áp sát vào mặt bàn. Hai gối và cẳng chân khép sát co về phía ngực, đầu cuối hướng về phía gối (cong như con tôm). Bàn tay trái kéo nâng và giữ nếp mông trái để tách hở hai nếp mông ra. Còn thầy thuốc luôn nhắc bịnh nhân thở đều, thả lỏng người và không được rặn. Tôi tạm đặt tên là Pg’ position, và cũng là tư thế thăm khám thuận tiện và ổn định kéo dài cho đến hiện nay.

***

Tôi xin kết thúc bài viết tại đây. Và những gì còn lại, tôi rất mong được thế hệ trẻ đã theo đuổi phương pháp và sẽ viết tiếp.